Chuỗi liên kết nông nghiệp: Vai trò trong phát triển bền vững
Nông nghiệp
Chuyển đổi số & tác động xã hội Nông nghiệp số Phát triển bền vững & ESG

Chuỗi liên kết nông nghiệp: Vai trò trong phát triển bền vững

Trong bối cảnh nông nghiệp đang chịu nhiều sức ép từ biến đổi khí hậu, biến động thị trường và yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, vai trò và tầm quan trọng của chuỗi liên kết nông nghiệp ngày càng được khẳng định như một yếu tố then chốt đối với phát triển bền vững. Thông qua liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nông dân có cơ hội nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra, gia tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng.

Hãy cùng SE WHITE tìm hiểu những vai trò quan trọng của chuỗi liên kết nông nghiệp trong việc thúc đẩy phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp hiện nay!

 

Chuỗi liên kết nông nghiệp là gì?

Định nghĩa chuỗi liên kết / chuỗi giá trị nông nghiệp

Chuỗi liên kết nông nghiệp (hay còn gọi là chuỗi giá trị nông nghiệp) là mô hình tổ chức sản xuất trong đó các khâu từ cung ứng đầu vào, sản xuất, thu hoạch, chế biến, phân phối đến tiêu thụ nông sản được kết nối chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ hợp tác, ràng buộc lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia. Thay vì sản xuất đơn lẻ, tự phát, mô hình này hướng tới việc hình thành một hệ thống sản xuất – kinh doanh thống nhất, vận hành theo nhu cầu của thị trường.

Bản chất của chuỗi liên kết không chỉ dừng lại ở việc “liên kết để bán sản phẩm”, mà còn là quá trình phối hợp xuyên suốt toàn bộ vòng đời của nông sản, từ khâu lập kế hoạch sản xuất, kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn hóa quy trình cho đến xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường tiêu thụ. Nhờ đó, giá trị của nông sản được gia tăng ở mỗi công đoạn, thay vì chỉ tập trung vào khâu sản xuất ban đầu.

 

Mục tiêu của chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp bền vững

Mục tiêu cốt lõi của liên kết sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là tạo ra sự ổn định, hiệu quả và bền vững cho toàn bộ hệ thống nông nghiệp. Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, sự liên kết càng trở nên quan trọng và cần thiết, đặc biệt là liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản Việt.

Thông qua các hình thức hợp đồng bao tiêu và hợp tác dài hạn, chuỗi liên kết giúp đảm bảo đầu ra ổn định cho nông dân, giảm thiểu rủi ro về thị trường và biến động giá cả, từng bước khắc phục tình trạng “được mùa nhưng mất giá”.

Bên cạnh đó, liên kết sản xuất giúp nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản thông qua tiêu chuẩn hóa, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu mà còn tạo nền tảng xây dựng thương hiệu nông sản Việt, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số để tối ưu chi phí, nâng cao năng suất.

Về lâu dài, chuỗi liên kết nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia, nâng cao thu nhập cho người nông dân và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.

Chuỗi liên kết nông nghiệp là gì?

 

Các chủ thể trong chuỗi liên kết nông nghiệp

Chuỗi liên kết nông nghiệp chỉ có thể vận hành hiệu quả khi có sự tham gia đồng bộ và phối hợp chặt chẽ của nhiều chủ thể khác nhau. Mỗi chủ thể đảm nhiệm một vai trò riêng, nhưng đều có mối quan hệ tương hỗ, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững.

Nông dân và hộ sản xuất

Nông dân và hộ sản xuất là chủ thể trung tâm của chuỗi liên kết nông nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Trong mô hình liên kết, nông dân không chỉ đóng vai trò là người sản xuất đơn thuần mà còn tham gia vào quá trình lập kế hoạch sản xuất, tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Khi tham gia chuỗi liên kết, nông dân được hỗ trợ về giống, kỹ thuật canh tác, thông tin thị trường và đầu ra sản phẩm, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và thu nhập một cách ổn định hơn.

 

Hợp tác xã nông nghiệp

Trong chuỗi liên kết nông nghiệp, hợp tác xã (HTX) nông nghiệp giữ vai trò hạt nhân tổ chức và điều phối, đặc biệt trong mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm. Theo tinh thần Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, HTX không chỉ là chủ thể tham gia liên kết mà còn là đơn vị chủ trì, đóng vai trò đầu mối tiếp nhận, triển khai và chuyển giao các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng như các nguồn lực khác đến người sản xuất. Thực tế cho thấy, theo báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện Nghị định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 79,34% hợp tác xã nông nghiệp tham gia với vai trò chủ trì liên kết, đồng thời tiếp nhận tới 73,1% nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị (1). Điều này càng khẳng định vị thế trung tâm của HTX trong hệ sinh thái liên kết nông nghiệp.

Không dừng lại ở đó, HTX còn giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thống nhất. Đặc biệt, đối với các sản phẩm đặc sản và sản phẩm OCOP, HTX đảm nhận thêm các khâu sau thu hoạch như bảo quản, chế biến và phân phối. Nhờ vậy, các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn từng bước được hình thành, sử dụng chung giống và quy trình kỹ thuật nhằm tạo ra sản phẩm đồng nhất theo yêu cầu của doanh nghiệp. Thông qua HTX, các hộ nông dân nhỏ lẻ được định hướng sản xuất thống nhất, qua đó hạn chế tình trạng sản xuất manh mún, tự phát.

Bên cạnh vai trò tổ chức sản xuất, HTX còn là lực lượng thúc đẩy liên kết ngang giữa các hộ nông dân thông qua hành động tập thể. Cụ thể, với tư cách là tổ chức kinh tế có pháp nhân, HTX đóng vai trò cầu nối, đại diện cho thành viên đàm phán với doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp dịch vụ đầu vào. Đồng thời, HTX chủ động nắm bắt yêu cầu thị trường để xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh phù hợp. Nhờ đó, vị thế và tiếng nói của nông dân được nâng cao, giúp họ đảm bảo lợi ích và giảm thiểu rủi ro khi ký kết hợp đồng.

Ở chiều ngược lại, trong liên kết dọc với doanh nghiệp tiêu thụ theo hợp đồng, HTX tiếp tục giữ vai trò giám sát và điều phối. Sau khi hợp đồng được ký kết, HTX theo dõi việc tuân thủ quy trình kỹ thuật, thời vụ sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm của các hộ thành viên; đồng thời giám sát nghĩa vụ hoàn trả nếu doanh nghiệp ứng vốn trước. Song song với đó, HTX cũng đại diện cho nông dân giám sát việc thực hiện cam kết từ phía doanh nghiệp, qua đó bảo đảm tính minh bạch và bền vững của mối liên kết.

Các chủ thể trong chuỗi liên kết nông nghiệp

 

Doanh nghiệp chế biến – phân phối

Doanh nghiệp chế biến và phân phối đóng vai trò dẫn dắt thị trường trong chuỗi liên kết nông nghiệp. Đây là chủ thể tham gia sâu vào các khâu chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp thường là đơn vị đặt ra yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn sản xuất và truy xuất nguồn gốc, đồng thời tham gia bao tiêu sản phẩm, giúp ổn định đầu ra cho nông dân. Thông qua chế biến sâu và phát triển thương hiệu, doanh nghiệp góp phần quan trọng trong việc gia tăng giá trị nông sản.

 

Nhà nước, tổ chức khoa học và tài chính

Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp thông qua việc hoàn thiện chính sách, khung pháp lý và cơ chế hỗ trợ. Bên cạnh đó, các tổ chức khoa học – công nghệ cung cấp giải pháp kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ khoa học, hỗ trợ đổi mới quy trình sản xuất và ứng dụng chuyển đổi số trong nông nghiệp. Các tổ chức tài chính đóng vai trò cung cấp nguồn vốn, tín dụng và các công cụ tài chính phù hợp, giúp các chủ thể trong chuỗi mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư dài hạn.

 

Thực trạng chuỗi liên kết trong nông nghiệp hiện nay 

Trong những năm nay, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã đạt được thành tựu đáng kể, khi ghi nhận Việt Nam có 2.938 dự án và kế hoạch liên kết theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP được phê duyệt, trong đó có 1.968 dự án và 970 kế hoạch liên kết được các địa phương phê duyệt.

Trong 2.938 dự án được phê duyệt, 79% do hợp tác xã làm chủ trì, còn lại do doanh nghiệp dẫn dắt. Các hình thức liên kết tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực trồng trọt (chiếm 67%), tiếp theo là chăn nuôi (24%) và lâm nghiệp (6%).

Qua đó, Nghị định đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản, từ đó gia tăng đáng kể giá trị sản phẩm nông nghiệp. 

Sự phối hợp và liên kết trong chuỗi nông nghiệp còn được thể hiện qua số vốn được huy động bao gồm:  Hơn 15.200 tỷ đồng đã được huy động cho các dự án, trong đó ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 21%, còn lại do doanh nghiệp và người dân đối ứng, thể hiện tinh thần đồng đầu tư và cùng hưởng lợi (2). 

Một lần nữa vai trò của HTX nông nghiệp được khẳng định trong báo cáo thực trạng nhằm ổn định được chuỗi liên kết nông nghiệp bền vững. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, HTX nông nghiệp đóng vai trò “bộ điều phối” ở cấp vùng, liên kết chặt chẽ giữa DN và người nông dân, chỉ khi ba chủ thể này vận hành trong một hệ sinh thái cộng sinh, chuỗi giá trị mới đạt hiệu quả, giảm chi phí, tăng lợi nhuận và giảm rủi ro cả về thị trường lẫn kỹ thuật.

Theo báo cáo thì số lượng và chất lượng hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam đã tăng nhanh trong 5 năm qua. Theo diễn đàn Kinh tế hợp tác 2025, cả nước hiện có hơn 22.600 hợp tác xã nông nghiệp, tăng hơn 4.500 đơn vị so với năm 2020. Tỷ lệ hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp đã tăng gần gấp đôi, chiếm hơn 30% (3).

Mặc dù đã đạt được một số kết quả tích cực trong quá trình xây dựng chuỗi liên kết nông nghiệp theo hướng bền vững, song thực tế cho thấy nông nghiệp Việt Nam vẫn đang phát triển ở trình độ chưa cao, thiếu ổn định và chưa đồng đều giữa các khu vực, vùng miền.

Bên cạnh đó, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hiện nay vẫn còn lỏng lẻo, hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng. Do đó, việc duy trì và phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp tiếp tục là một bài toán khó, đòi hỏi phải đối mặt và thích ứng với nhiều thách thức và biến động trong thời gian tới.

Thực trạng chuỗi liên kết trong nông nghiệp hiện nay (Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng)

 

Một số lợi ích của chuỗi liên kết trong nông nghiệp

Việc phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất, giá trị nông sản và tính bền vững của toàn ngành dưới đây: 

Nâng cao giá trị nông sản

Thông qua việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị, nông sản không chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu thô mà còn được gia tăng giá trị ở các khâu sau thu hoạch. Chuỗi liên kết giúp giảm chi phí trung gian, hạn chế tình trạng ép giá, đồng thời tạo điều kiện để đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường, từ đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.

 

Ổn định đầu ra và thu nhập cho nông dân

Một trong những lợi ích quan trọng nhất của chuỗi liên kết nông nghiệp là ổn định đầu ra cho sản phẩm. Thông qua các hình thức bao tiêu sản phẩm và hợp đồng liên kết dài hạn, nông dân giảm thiểu rủi ro về thị trường, hạn chế biến động giá cả và có thu nhập ổn định hơn. Việc sản xuất gắn với nhu cầu thị trường cũng góp phần từng bước khắc phục tình trạng “được mùa nhưng mất giá”.

 

Nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản

Chuỗi liên kết tạo điều kiện để sản xuất theo tiêu chuẩn, từ khâu giống, canh tác đến thu hoạch và bảo quản. Việc tuân thủ các quy chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc giúp nông sản đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Một số lợi ích của chuỗi liên kết trong nông nghiệp

 

Thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số

Việc tham gia chuỗi liên kết khuyến khích các chủ thể trong nông nghiệp ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất và quản lý. Các giải pháp như truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng trồng, số hóa quy trình sản xuất, kết nối cung – cầu giúp nâng cao hiệu quả vận hành chuỗi. Đồng thời, chuyển đổi số trong nông nghiệp góp phần minh bạch thông tin, giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận thị trường cho nông sản.

 

Góp phần phát triển nông nghiệp bền vững

Chuỗi liên kết nông nghiệp không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đóng góp tích cực vào phát triển bền vững trên cả ba phương diện kinh tế – xã hội – môi trường. Việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giúp sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm lãng phí trong sản xuất và sau thu hoạch, nâng cao thu nhập cho người nông dân, tạo việc làm ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững và lâu dài.

 

Giải pháp phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp hiệu quả

Để phát triển chuỗi liên kết nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả, yếu tố then chốt là xây dựng niềm tin hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân, trong đó các bên cùng chia sẻ lợi ích, cùng phân bổ rủi ro và phối hợp chặt chẽ trong toàn bộ chuỗi giá trị. Trên cơ sở định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các giải pháp trọng tâm được đề xuất tập trung vào ba nhóm chính.

Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách và thể chế liên kết thông qua việc sửa đổi Nghị định số 98/2018/NĐ-CP theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp cho địa phương trong tổ chức và quản lý liên kết. Đồng thời, bổ sung các chính sách phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thúc đẩy chuỗi giá trị xanh và chuỗi giá trị số, cũng như thể chế hóa cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

Việc khuyến khích các tác nhân trung gian như thương lái và tổ dịch vụ nông nghiệp tham gia chuỗi trên cơ sở minh bạch, có kiểm soát cũng là nội dung quan trọng nhằm hoàn thiện hệ sinh thái liên kết.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực cho chuỗi liên kết nông nghiệp thông qua xây dựng các chương trình đào tạo hiện đại dành cho nông dân và hợp tác xã. Trọng tâm đào tạo hướng tới hình thành nông dân số, đội ngũ giám đốc hợp tác xã, cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý chuỗi giá trị có năng lực chuyên môn, am hiểu thị trường và làm chủ công nghệ. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất và năng lực vận hành chuỗi liên kết trong thực tiễn.

Thứ ba, nhân rộng các mô hình vùng nguyên liệu đạt chuẩn trên phạm vi cả nước, dựa trên kinh nghiệm triển khai các mô hình thí điểm hiệu quả, tiêu biểu là Đề án một triệu héc-ta lúa chất lượng cao. Việc triển khai cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, bài bản, gắn với liên kết tiêu thụ và có cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo tính bền vững và khả năng mở rộng của các chuỗi liên kết nông nghiệp.

 

Lời kết

Có thể khẳng định rằng, chuỗi liên kết nông nghiệp không chỉ là giải pháp tổ chức sản xuất hiệu quả mà còn là nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn. Thông qua việc kết nối chặt chẽ các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, chuỗi liên kết góp phần nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra, cải thiện thu nhập cho nông dân và gia tăng năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Hy vọng bài viết này SE WHITE đã đem đến những thông tin bổ ích trong việc khám phá về vai trò của chuỗi liên kết nông nghiệp ở Việt Nam. 

 

Trích nguồn: 

  1. Tạp chí Môi trường (2023). Vai trò của hợp tác xã trong liên kết chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định số 98/2018/NĐ-CP. Tạp chí Môi trường.
  2. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2024). Tăng sức cạnh tranh nông sản bằng liên kết chuỗi giá trị xanh.
  3. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2024). Liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp: Doanh nghiệp là lực kéo, HTX là hạt nhân.
Tác giảMinh Quân
Ngày đăng: 12/02/2026
Content

Bài viết liên quan

Generative AI là gì? Những điều cần biết về Gen AI
Bài phân tích
Dịch vụ
Generative AI trong vận hành
ESG và CSR: Phân biệt sự khác nhau và vai trò trong phát triển bền vững
Bài phân tích
Dịch vụ
Chuyển đổi xanh & giảm phát thảiPhát triển bền vững & ESG
Chuỗi liên kết nông nghiệp: Vai trò trong phát triển bền vững
Bài phân tích
Nông nghiệp
Chuyển đổi số & tác động xã hộiNông nghiệp sốPhát triển bền vững & ESG